Ứng dụng công nghệ sinh
học trong
công tác giống chè sẽ khắc phục được những trở ngại khi sử dụng biện
pháp
truyền thống. Nhờ chỉ thị phân tử AND,
xác định được khoảng cách di truyền giữa các giống chè để chọn cặp lai
và chọn
ra những cá thể có kiểu gen mong muốn. Công nghệ nuôi cây mô sẽ tạo ra
những cá
thể từ phôi lai xa và nhân nhanh chúng, Nhờ những kỹ thuật đó mà thời
gian tạo
giống chè mới sẽ được rút ngắn hơn so với phương pháp truyền thống.
Dựa trên kết
quả xác định khoảng cách di truyền, lựa chọn lựa chọn các
giống chè có mức độ tương đồng di truyền từ 0,5 – 0,6 làm bố mẹ trong
các cặp
lai. Tiến hành
lai hoa của các cặp lai, thu hoạch phôi và nuôi cấy in vitro.
Nuôi cấy phôi non, dùng môi trường MS
thêm 2 mg/l 2,4 D tỷ lệ phôi hình thành
mô sẹo cao nhất từ 2,56-33,21% tuỳ theo thời gian thu phôi sau khi lai
hoa. Nuôi
cấy phôi sau khi lai hoa 4-5 tháng trên môi trường ½ MS thêm 2 mg/l GA3
sẽ tạo
ra chồi trực tiếp từ phôi. Khi nuôi cấy nhân nhanh các cây lai F1 trong
điều kiện
in vitro, hệ số nhân giống của các dòng có sự khác nhau, dao động từ 3,0
– 6,6
lần/ một đợt nhân. Sơ bộ đánh giá sinh trưởng của 11 con lai F1 ở điều
kiện vườn ươm, có hai
dòng sinh trưởng chiều cao trội hơn là TKt-10 cao 45,6cm và dòng PBt-25
cao
48,0 cm và đều cao hơn giống Trung du đối chứng.
TS.
Nguyễn Văn Thiệp
PGS.TS Lê Quốc Doanh