(1) “Con đường tơ lụa huyền thoại” thế kỷ thứ XVI (Kadinsky, Dominant Curve - 2006).
- Năm 1567 phái đoàn của hai nhà lãnh đạo Kazaks là
Petrov và Yayshev sau khi thăm Trung Hoa đã mô tả về trà Trung Hoa. Nga Hoàng bắt
đầu thương thuyết với Trung Hoa và Nhật Bản về buôn bán trà cùng thời gian với
Công ty Đông Ấn Độ của Hoàng gia Anh. Nhưng năm 1618, Sa hoàng Michael
Fedorovich người sáng lập ra dòng họ Romanov mới quan tâm đến trà khi phái đoàn
Nga từ Trung Hoa trở về dâng lên vài hòm trà tại Moscow.
Đoàn lạc
đà tải trà đến bán ở thị trấn Nga
Năm 1638 Đại sứ Nga Vasily Startkov dâng lên cho Sa hoàng
món quà về trà của Hoàng đế Mông Cổ Khan. Năm 1689, Nghị định thương mại
Newchinsk đã thiết lập một hành lang biên giới giữa Nga và Trung Hoa mà các đoàn
thồ lạc đà có thể qua lại tự do. Phía Trung Hoa nhấn mạnh trao đổi thương mại
hai bên chỉ giới hạn ở một điểm tại biên giới chung là Kyakhta, trên con đường đồng
cỏ sa mạc Gobi dài hơn 1.000 dặm từ Bắc Kinh đến Saint Petersburg. Hiệp định thương
mại ký năm 1689 là mốc mở đầu cho buôn bán trà thường xuyên giữa Nga và Trung
Hoa bằng các đoàn lạc đà tải các hòm trà đến tận bờ sông Usk Kayakhta với thời
gian 16 - 18 tháng, qua con đường tơ lụa huyền thoại mà Marco Polo một doanh nhân
Italia thành Venise đã vượt qua năm 1275 để hoạt động thương mại hơn 20 năm tại
triều đình Hoàng đế Mông Cổ.
Con đường
tơ lụa và trà huyền thoại tại Buryatia giữa Trung Hoa và Nga
Các đoàn thồ lạc đà của Nga tải lông thú đến để trao đổi
trà và vải của thương nhân Trung Hoa tại một thị tứ nhỏ tên gọi “ Mãi mại thành
“ (Thị trấn buôn bán) cách đó vài chục dặm. Cũng
từ đó người Nga đã sử dụng bình đun nươc pha trà samovar mô phỏng ấm đun nước sôi
của dân Tibet - Mông Cổ. Thời trị vì của nữ Sa hoàng Catherine vĩ đại, trà
rất đắt và chỉ dành cho lớp người giàu có và giới
quan lại quyền quý ở cung điện triều đình mới có đủ khả năng uống trà có mùi xông
khói của Trung Hoa. Vào năm 1796, khi nữ Sa hoàng băng hà hàng năm nước Nga tiêu
thụ đến 6.000 trọng tải trà lạc đà, tương đương với 3.500 tấn trà.
Con đường
trà vĩ đại
Trà vào nước Nga bằng “ Con đường trà vĩ đại”, là một phần
của “Con đường tơ lụa huyền thoại” dài đến 1.000 dặm phải đi đến 16 tháng mới hết
! Mỗi đoàn thồ gồm 200 - 300 con lạc đà. Con đường trà bắt đầu từ thị trấn
Kashgar ngay sau Vạn lý trường thành ở cửa ngõ vào sa mạc Gobi. Trà từ phía Nam
Trung Hoa tập trung tại đây để tái chế biến đóng gói bao bì chống ẩm. Các nhà đại
diện thương mại Nga mua trà rồi gửi lên phía Bắc. Đoàn lạc đà đi những bước chậm
chạp từ mùa đông và mùa xuân qua sa mạc Gobi từ Kalgan đến Urga tại biên giới Mông
Cổ. Sau một lần kiểm tra đơn giản lại tiếp tục đến Kyakhta biên giới Nga - Mông
Cổ. Tại đây tiến hành kiểm tra, đóng gói và đóng dấu hải quan gọi là tsybic bọc
bằng giấy và thiếc chống ẩm, bỏ vào trong rọ tre gửi đi Irkust, rồi cuối cùng
tiêu thụ tại các chợ trà ở phía Nga - châu Âu.
Sau khi khai trương kênh đào Suez các thương gia Nga bắt đầu
gửi nhiều loại trà quý hiếm đến Odessa, một cảng ở bờ Biển Đen. Con đường tơ lụa chấm dứt khi mở con đường xe hoả
xuyên Sibirsk năm 1903, chỉ đi mất hơn một tuần lễ, làm cho trà giảm giá
mạnh và dần dần phổ cập trong đời sống xã hội Nga với phong cách uống trà chân
thành, ấm cúng, thân thiện và thuỷ chung.
(2) “Con đường
Trà - Mã đạo”, “Con đường tơ lụa” ở Tây Nam Trung Quốc (Yang
Fuquan, 2005)
- “Con đường Trà mã đạo” ở miền Tây Nam ít nổi tiếng hơn
“Con đường tơ lụa” ở miền Đông Bắc Trung Quốc. Con đường vượt qua nhiều ngọn núi
cao ngất và hiểm nghèo. Nó bắt đầu từ Vân Nam và Tứ Xuyên, dọc theo chân núi phía
Đông của rẫy núi Hengduan một trung tâm sản xuất trà của Trung Quốc. Nó vượt
qua rẫy núi Hengduan và nhiều hẻm núi sâu thẳm của con sông lớn như Yalong,
Jinsha (thượng nguồn sông Dương Tử), sông Lan Thương (Mekong) và sông Nu
(Salouen) và như vậy mở rộng khắp hai cao nguyên Thanh Hải - Tibet và Vân Nam -
Quý Châu, rồi cuối cùng đền Ấn Độ phía Nam dãy núi Himalaya.
Ngoài việc buôn bán trà và ngựa là chính còn có nhiều hàng
hoá khác. Các đoàn ngựa thồ tải trà, đường và muối từ Tứ Xuyên, Vân Nam lên
Tibet rồi trở về với hàng hoá nhiều màu sắc của miền núi. Người Trung Hoa đến
mua ngựa chiến ở đây từ hàng nghìn năm. Con đường còn là một hành lang di cư và
trao đổi văn hoá đầy ý nghĩa với các dân tộc thiểu số miền Tây Trung Quốc. Hơn
thế nữa nó còn là chiếc cầu nối và trao đổi văn hoá và kinh tế giữa hai nước
Trung Quốc và Ấn Độ. Tuy không có buôn bán lụa nhưng do tầm quan trọng văn hoá
và kinh tế của lịch sử Trung Quốc nên cũng được gọi là “Con đường tơ lụa”.
Địa hình rất đa dạng hiểm trở. Con đường có hai nhánh. Nhánh
thứ nhất xuất phát từ Phổ Nhĩ (thuộc tỉnh Xípxoongpảnnả) đi qua Lệ Giang, Đại Lý
và Zhong dian (xứ Shangrila)... và đến tận thủ đô Lhasa của Tibet rồi vượt sang
Burma, Nepal tới Ấn Độ. Nhánh thứ hai xuất phát từ Ya’an tỉnh Tứ Xuyên qua vùng
chè Yacha và Thành Đô, Lhasa rồi đến Nepal và Ấn Độ. Con đường từ Tứ Xuyên đi
Lhasa dài 2.350 km vượt qua 78 ngọn núi có nơi cao hơn 3.000 m. Khí hậu thời tiết
biến độ cực lớn, tuyết rơi, nắng cháy, gió to, bão lớn.
Bản đồ
Trà mã đạo từ Trung Hoa sang Ấn Độ
Đây là nơi buôn bán trà và ngựa lâu đời từ thời Nhà Đường
(618 - 907) và Đời Tubo (chế độ Tibet). Theo cổ thư “Bộ sưu tập lịch sử Hán và
Tibet” của vua Tibet Chidusongzan (676 - 704), giới vua quan Tibet uống trà bằng
bát và đã có xếp các loại trà. Sử sách có ghi chép Vua Dezong Nhà Đường có phái
đại sứ Chang Lu đi Tibet tặng nhà vua trà trong khi tiếp trong một chiếc lều bạt.
Dân Tibet có quan hệ chặt chẽ với Tứ Xuyên và Vân Nam từ Đời Nhà Đường, nên đã
làm quen với trà từ lâu. Vân Nam có nhiều cây chè cổ thụ gọi là “Trà vương”; bộ
lạc dân tộc Nanzhao đã có tục uống trà từ thế kỷ 7 - 9 trước công nguyên.
Đời Nhà Thanh (1644 - 1911) buôn bán trà
tiếp tục phát triển giữa Tứ Xuyên, Vân Nam và Tibet. Theo yêu cầu của vua Đạt
lai lạt ma thứ V, triều đình Nhà Thanh đã ký một hợp đồng bán trà lớn tại
Beisheng (ở Vân Nam). Năm 1661 đã xuất đi Tibet 1.500 tấn trà qua Vân Nam. Hàng
năm đều có trà biếu cho Đạt lai lạt ma. Năm 2006, Trung Quốc đã mở con đường xe
hoả đến Lhasa thủ đô Tibet, tạo điều kiện giao lưu rất thuận lợi cho văn hoá và
kinh tế giữa hai nước.
- Năm
1833, Sa Hoàng nước Nga đã bắt đầu trồng cây chè con nhập từ Trung Quốc về trồng
tại Crưm trên bờ biển Đen không thu được kết quả; nhưng đến năm 1847 mới thành
công, rồi từ đó phát triển sang Grudia, Azecbaizan, Kratsnôda. Nước Nga đã trở
thành một trong 10 nước sản xuất trà lớn trên thế giới ngày nay.
Hà Nội ngày 2 tháng 7 năm 2010